Xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ liên quan đến độc tính thận trên bệnh nhân (BN) sử dụng colistin tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu hồi cứu 98 bệnh án có sử dụng colistin từ 02/2020 đến 04/2021. Kết quả Nhiễm khuẩn hô hấp chiếm đa số trong nghiên cứu với tỉ lệ là 79,8%, tiếp đến là nhiễm khuẩn huyết với tỉ lệ 18,4%. Vi khuẩn gram âm thường gặp nhất ở các bệnh nhân là Acinetobacter baumannii chiếm tỉ lệ 50%. Thời gian nằm viện trung bình là 39 ± 18,6 ngày. Độc tính thận xảy ra trên 32,7% BN. Thời gian xuất hiện độc tính thận có trung vị là 8 ngày. Trong đó, mức độ tổn thương thận và suy thận xảy ra tương ứng trên 8,2% và 8,2% BN. Năm yếu tố độc lập khi phân tích đơn biến làm tăng nguy cơ độc tính thận khi dùng colistin tìm được trong nghiên cứu này là tuổi, nữ giới,liều dùng hằng ngày, kháng sinh linezolid, kháng sinh cefepim. Hai yếu tố độc lập khi phân tích đa biến làm tăng nguy cơ độc tính thận khi dùng colistin tìm được trong nghiên cứu này là giới tính nữ (p = 0,008
HR = 3,020
CI 95% 1,336 - 6,827), và sử dụng kháng sinh linezolid (p =0,001
HR = 3,486
CI 95% 1,35 - 9,002). Kết luận Tỷ lệ độc tính thận khi dùng colistine là khá cao và việc xác định các yếu tố làm tăng nguy cơ độc tính thận từ nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cho các bác sĩ trong việc đưa ra các quyết định điều trị phù hợp để giúp tăng hiệu quả và an toàn khi dùng colistine trên bệnh nhân.